Đang lúc khó phan đúng sai thì Sái Dương cùng một loạt quân ở đâu xuất hiện làm cho Trương càng nghi ngờ Quan Công. Cái tên họ Sái kia cũng thật là biết xuất hiện đúng lúc. Không phải tự nhiên một cách tình cờ mà Sái Dương lại có mặt ở đây. Sự xuất hiện của hắn là hợp lý hợp logic bởi Quan Công vừa giết cháu ngoại của hắn là Tần Kỳ bên bờ Hoàng Hà khiến y đuổi theo để báo thù.
Có những tác phẩm đi liền với tên tuổi của một tác giả nào đó, nhắc đến tác giả người ta nhớ đến tác phẩm và ngược lại. Nếu nhắc đến Nguyễn Du thì không thể không kể đến Truyện Kiều, nhắc đến Quang Dũng người ta nhớ đến Tây Tiến. Còn khi nhắc tới Nguyễn Dữ là nhắc tới Truyền kì mạn lục. Đặc biệt trong số 20 truyện tiêu biểu có chuyện Chức phán sự ở đền Tản Viên thể hiện rõ ý đồ của tác giả. Đó là ca ngợi những con người cương trực, can đảm, biết đấu tranh để bảo vệ lẽ phải và chính nghĩa.
La Quán Trung – một nhà văn với tính cách cô độc, lẻ loi, thích ngao du nhưng lại có tài về viết dã sử. Ông có rất nhiều tiểu thuyết dã sử ví dụ như tùy đường lưỡng triều chí truyện, Tấn đường ngũ đại sử diễn nghĩa,.. Đặc biệt trong đó là tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, với giá trị của mình nó xứng đáng trở thành mọt trong những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử hay nhất của Trung Quốc. Tiêu biểu trong tác phẩm là đoạn trích hồi trống cổ thành.
Tây Bắc vì thế cũng chính là ngọn nguồn của cảm hứng nghệ thuật, cội nguồn của hồn thơ và của cảm hứng sáng tạo thơ ca.
Đoạn thơ chính là lời giục giã, lời mời gọi lên đường tới mọi miền xa xôi của Tổ quốc để xây dựng cuộc sống mới đồng
Đó là “lòng ta đã hóa những con tàu”, Chế Lan Viên đã hình tượng hóa sing độngkhát vọng ham hở vươn tới cuộc sống nhân dân, đất nước. Đó là “tâm hồn ta là Tây Bắc”, Nhà thơ khẳng định một chân lí: sức sống, tình cảm, thế giới tinh thần chỉ có thể được
Chàng tắm sửa chay sạch khấn trời rồi đốt đền mặc cho sự ngăn cản của mọi người, ai nấy đều lo lắng cho chàng. Họ “ lắc đầu lè lưỡi, họ lo sợ thay Tử Văn”. Hành động đó đủ thấy sự gan dạ muốn tiêu diệt cái ác trả lại sự bình yên cho dân làng mặc cho nguy hiểm có thế giáng xuống bất cứ lúc nào. Hơn nưa việc làm ấy thể hiện sự bảo vệ thổ thần đất nước,toát lên một tinh thần dân tộc mạnh mẽ.
Nếu những hồi trống ngoài chiến trận để thục giục binh sĩ chiên đấu, là điệu nhạc mừng vui khi thắng trận trở về thì hồi trống ở đây vang lên lại mang nhiều ý nghĩa khác. Thứ nhất là kết thúc những mối nghi ngờ giữa hai anh em Quan Trương gắn kết lại tình huynh đệ sống chết có nhau. Thứ hai, nó là hồi trống minh oan cho tấm lòng chung nghĩa của người anh hùng Quan Công. Thứ ba, là chiến thắng quân Tào một cách oanh liệt chỉ trong một hồi trống. Thứ tư là thể hiện tài năng võ nghệ của Quan Công đó chính là hồi trống thách thức y về tài năng và lòng chung thành.
Nhân vật chính trong truyện là Ngô Tử Văn, anh là một chàng trai tên Soạn người huện Yên Dũng đất Lang Giang. Với tính cách nóng nảy và ghét sự gian tà thì không thế chịu được. Bởi thế cho nên mới dẫn tơi hành động đốt đền. Thuở ấy có một tòa đền linh ứng lắm. Cuối đời họ Hồ quân Ngô sang xâm chiếm, vùng ấy thành chiến trường. Một tên họ Thôi tử trận ở gần đền nên tác yêu tác quái ở trên trần gian làm hại dân chúng. Với tấm lòng diệt tà hướng thiện của mình Tử Văn đã quyết định đốt đền.
Không có nơi đâu là đất lạ cả nếu có trong tâm hồn tình cảm yêu thương. Và đến đây ta hiểu chữ tình yêu của Chế Lan Viên không chỉ là tình yêu đôi lứa mà nó còn là tình yêu với quê hương đất nước.
Hắn phất áo bay đi thì chiều tối lại có một ông già “ áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh” đi vào. Ông ta cung kính vái chào Tử Văn và tự xưng là thổ địa. Hai người trò chuyên với nhau về chuyện đốt đền và tên tướng cướp đền kia sẽ làm gì với Tử Văn. Chủ nhân của cái đền bị đốt kia không ai khác chính là ông Thổ công còn tên đang giữ đền chỉ là một cô hồn của viên tướng bại trần bắc triều. Trước khi đi ông không quên dặn dò Tử Văn khi xuống Minh Ty thì hãy khai những gì mà ông vừa nói. Tên giặc kia chắc chắn không thể một tay che mắt trời mãi được. Sức mạnh của chính nghĩa sự diệt trừ kẻ ác, khảng khái của chàng Tử Văn và sức mạnh của sự thật của ông Thổ thần sẽ làm sáng tỏ mọi việc.
vậy mà giờ đây lại bị như thế này. Ông trời thật là khéo biết sắp đặt người ta vào những tình huống bế tắc. Tuy nhiên ban đầu Quan Công vẫn tưởng Trương Phi ra đón mình nên đã mừng rỡ “giao long đao,tế ngựa lại đón”. Quan vẫn xưng hô hiền đệ và em mặc dù Trương Phi đang mày tao thất lễ. Quả thật là một người anh mà chấp nhận để cho em nhục mạ mặc cho mình không làm gì sai như vây thật là đáng quý. Ở đây ta thấy một đức tính kiên nhẫn mềm mỏng nói năng dễ nghe của một huynh trưởng.
Bài thơ có một nhan đề khá lạ: “Tiếng hát con tàu”. Trong nhan đề tác giả dùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa -Con tàu cất lên tiếng hát. Đó là tiếng hát của tâm hồn, tấm lòng nhà thơ, tiếng ca reo vui của một tâm hồn thơ tràn đầy khát vọng
Ở hai khổ thơ tiếp theo, mạch thơ đột ngột chuyển sang một rung cảm và suy tưởng khác. Tình cảm gắn với thiên nhiên đất nước được biểu đạt bằng tình yêu giữa anh và em. Từ những so sánh trong khổ thơ này nhà thơ đi đến một chân lí khái quát
Kể về hành trình gặp lại nhau của hai anh em họ thật đáng để người ta dùng những mĩ từ hay nhất để miêu tả. Câu chuyện bắt đầu khi Quan Công dẫn hai chị vượt qua những ải của Tháo. Tháo vẫn muốn giữ Quan lại để dùng nên mặc du biết những điều Quan sắp làm Tháo vẫn không cho người đuổi theo mà ngăn cho họ không qua được ải
Truyền kỳ mạn lục là sáng tác duy nhất của Nguyễn Dữ, có thể nói ông không sáng tác nhiều ít thôi nhưng giá trị của nó vượt lên trên số lượng câu chuyện của nó. Truyền kỳ mạn lục viết bằng chữ Hán xen lẫn giữa biền ngẫu và thơ ca, cuối truyện còn có lời bình của tác giả. Tác phẩm này được viết khi tác giả ẩn cư ở rừng núi xứ Thanh. Để xây dựng nhân vật cua mình tác giả thường mượn nhân vật có thật trong hiện tại hoặc những nhân vật có trong huyền thoại rồi thêm bớt chi tiết kết hợp với những yếu tố kỳ ảo làm nên sức hút của truyền kì mạn lục.
Đặc biệt không cần đến ba hồi trống mà chưa hết một hồi Quan đã hạ được đối thủ. Điều đó đủ cho thấy Quan Công quyết tâm minh bạch như thế nào. Không những thế nó còn ca ngợi tài năng võ thuật của Quân Công. Về phía Trương Phi đặt ra hồi trống kia chính là để thách thức Quan Công nhưng không ngờ lại nhanh chóng đến thế nên mối nghi ngờ trong y vẫn không nguôi. Mãi cho đến khi bắt một tên lính minh oan và kể lại đầu đuôi sự việc cungf những cái thụp lạy van khóc của hai chị thì Trương Phi lúc này mới tin Quan Công.
Đúng như đã đoán trước được, đến đêm bệnh của Tử Văn càng nặng hơn rồi ở đâu xuất hiên hai tên quỷ sứ đến bắt chàng đi gấp. Tử Văn không được vào dinh mà bị giải đi tới chỗ của bọn quỷ dạ xoa. Chàng không cam tâm kêu lớn. Diêm vương nghe được liền gọi chàng vào xét xử cho phục. Hình ảnh Diêm Vương cùng các vị thần hiện lên thể hiện nét tâm linh của người Việt, chúng ta quan niệm rằng có thế giới bên kia, cái thế giới mà con người ta khi chết đi xuống đó sẽ được thưởng hay bị phạt vì những hành đông của mình khi còn sống. Tử Văn tâu trình và cãi vã với tên kia sau khi nghe chuyện Diêm Vương cũng thấy nghi ngờ. Tiếp đó Vương cho người đến Tản Viên tìm sự thật thì quả đúng như lời của Tử Văn nói. Mọi chuyện kết thúc tốt đẹp tên quan bại trận kia phải chịu hình phạt lồng sắt chụp vào đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng rồi bỏ vào ngục cửu u.