Đặc biệt không cần đến ba hồi trống mà chưa hết một hồi Quan đã hạ được đối thủ. Điều đó đủ cho thấy Quan Công quyết tâm minh bạch như thế nào. Không những thế nó còn ca ngợi tài năng võ thuật của Quân Công. Về phía Trương Phi đặt ra hồi trống kia chính là để thách thức Quan Công nhưng không ngờ lại nhanh chóng đến thế nên mối nghi ngờ trong y vẫn không nguôi. Mãi cho đến khi bắt một tên lính minh oan và kể lại đầu đuôi sự việc cungf những cái thụp lạy van khóc của hai chị thì Trương Phi lúc này mới tin Quan Công.
gợi lên những kỉ niệm kháng chiến đầy nghĩa tình với nhân dân và đất nước. Bốn khổ cuối là khúc hát lên đường sôi nổi, tin tưởng và say mê.
Bốn câu thơ đề từ chính là tư tưởng chủ đề bài thơ, đã khái quát suy nghĩ và tình cảm của tác giả:
vậy mà giờ đây lại bị như thế này. Ông trời thật là khéo biết sắp đặt người ta vào những tình huống bế tắc. Tuy nhiên ban đầu Quan Công vẫn tưởng Trương Phi ra đón mình nên đã mừng rỡ “giao long đao,tế ngựa lại đón”. Quan vẫn xưng hô hiền đệ và em mặc dù Trương Phi đang mày tao thất lễ. Quả thật là một người anh mà chấp nhận để cho em nhục mạ mặc cho mình không làm gì sai như vây thật là đáng quý. Ở đây ta thấy một đức tính kiên nhẫn mềm mỏng nói năng dễ nghe của một huynh trưởng.
Đang lúc khó phan đúng sai thì Sái Dương cùng một loạt quân ở đâu xuất hiện làm cho Trương càng nghi ngờ Quan Công. Cái tên họ Sái kia cũng thật là biết xuất hiện đúng lúc. Không phải tự nhiên một cách tình cờ mà Sái Dương lại có mặt ở đây. Sự xuất hiện của hắn là hợp lý hợp logic bởi Quan Công vừa giết cháu ngoại của hắn là Tần Kỳ bên bờ Hoàng Hà khiến y đuổi theo để báo thù.
Sau khi dốt đền xong, chàng thấy trong người vô cùng khó chịu.đầu có trao đảo, bụng dạ run run, và kết quả là một trận sốt rét. Trong cơn sốt chàng thấy rõ một người “khôi ngô dõng dạc, đầu đội mũ trụ đi tới”. Hắn trông giống người phương Bắc hắn tự xưng là cư sĩ và đòi Tử Văn phải xây lại đền. Hắn nói: “ nhà ngươi đã theo nghiệp nho, đọc sách thánh hiền, há không biết cái đức của quỷ thần ra sao, cớ gì lại dám lăng miệt, hủy tượng đốt đền, khiến cho hương lửa không có chốn tựa nương… Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai họa”.
Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên là một chuyện đặc sắc trong truyền kỳ mạn lục. Với những yếu tố kỳ ảo và lối dẫn truyện hấp dẫn tác giả đưa người đọc khám phá một thế giới khác cùng chàng Ngô Tử Văn đòi lại công bằng. Qua đó tác giả gửi gắm những giá trị nhân van và giá trị hiện thực sâu sắc
La Quán Trung – một nhà văn với tính cách cô độc, lẻ loi, thích ngao du nhưng lại có tài về viết dã sử. Ông có rất nhiều tiểu thuyết dã sử ví dụ như tùy đường lưỡng triều chí truyện, Tấn đường ngũ đại sử diễn nghĩa,.. Đặc biệt trong đó là tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, với giá trị của mình nó xứng đáng trở thành mọt trong những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử hay nhất của Trung Quốc. Tiêu biểu trong tác phẩm là đoạn trích hồi trống cổ thành.
Lúc bấy giờ Chế Lan Viên đang phải nằm viện, ông đành gửi những khát vọng lên với Tây Bắc qua bài thơ này. Bài thơ tựa như một bản giao hưởng tâm trạng với ba chương khúc: Sự trăn trở giục giã lên đường – Sự hồi tưởng về những kỉ niệm với nhân dân
Từ “cảm ơn” là từ hay dùng nhất. Đối với bất kể ai dù là một đứa trẻ nếu giúp mình một việc gì dù nhỏ nhất mình cũng phải “cảm ơn”. Ví dụ: cháu đưa ông tờ báo, ông cảm ơn cháu; mình hỏi đường, người ta chỉ, mình phải cảm ơn; người bán hàng giao hàng
Truyền kì là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Hoa có yếu tố kì ảo để phản ánh cuộc sống thực tại. Thể loại này đặc biệt phát triển ở giai đoạn văn học trung đại Việt Nam và rất được ưa chuộng. Truyện truyền kì Việt Nam thường sử dụng truyện dân gian hoặc mô típ truyện dân gian để xây dựng truyện mới. Có thể nói truyện truyền kì mang đậm chất hiện thực và chất nhân văn.
Có những tác phẩm đi liền với tên tuổi của một tác giả nào đó, nhắc đến tác giả người ta nhớ đến tác phẩm và ngược lại. Nếu nhắc đến Nguyễn Du thì không thể không kể đến Truyện Kiều, nhắc đến Quang Dũng người ta nhớ đến Tây Tiến. Còn khi nhắc tới Nguyễn Dữ là nhắc tới Truyền kì mạn lục. Đặc biệt trong số 20 truyện tiêu biểu có chuyện Chức phán sự ở đền Tản Viên thể hiện rõ ý đồ của tác giả. Đó là ca ngợi những con người cương trực, can đảm, biết đấu tranh để bảo vệ lẽ phải và chính nghĩa.
Vậy mà cũng dám mở mồm nói câu đạo ký với Tử Văn về viêc học hành của anh cũng như vai trò của thần thánh. Khi Tử Văn đáp lại hắn bằng thái độ dửng dưng đó hắn tức giận và dọa sẽ không để yên như thế. Còn chàng Tử Văn thì chí không lùi tâm vững chắc không thể vì những lời đe dọa của hắn mà xây lại đền. Hơn nữa anh tin vào việc làm của mình là đúng đắn là trự hại cho dân dẫu cho kết quả ra sao thì anh cũng không hề hối hận.
Nhân vật chính trong truyện là Ngô Tử Văn, anh là một chàng trai tên Soạn người huện Yên Dũng đất Lang Giang. Với tính cách nóng nảy và ghét sự gian tà thì không thế chịu được. Bởi thế cho nên mới dẫn tơi hành động đốt đền. Thuở ấy có một tòa đền linh ứng lắm. Cuối đời họ Hồ quân Ngô sang xâm chiếm, vùng ấy thành chiến trường. Một tên họ Thôi tử trận ở gần đền nên tác yêu tác quái ở trên trần gian làm hại dân chúng. Với tấm lòng diệt tà hướng thiện của mình Tử Văn đã quyết định đốt đền.
Đoạn trích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia vốn là một bài văn bia, nội dung chính của đoạn trích là giải thích về nguyên nhân các triều đại dựng bia tiễn sĩ: đó không chỉ là cách lưu lại tên tuổi của những người hiền tài có công với đất nước
Nếu hai khổ thơ đầu là sự trăn trở và lời giục giã mời gọi lên đường thì chín khổ tiếp theo lại là niềm hạnh phúc và khát vọng về với nhân dân, gợi lại những kỷ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến; xen với những hình ảnh
Những câu thơ đề từ còn có ý nghĩa khái quát lên những đặc trưng và yêu cầu của quá trình sáng tạo nghệ thuật. Câu thơ mở đầu là lời mời gọi con người trở về với nhân dân, đất nước.
Bài thơ có một nhan đề khá lạ: “Tiếng hát con tàu”. Trong nhan đề tác giả dùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa -Con tàu cất lên tiếng hát. Đó là tiếng hát của tâm hồn, tấm lòng nhà thơ, tiếng ca reo vui của một tâm hồn thơ tràn đầy khát vọng