Thừa nhận một lỗi lầm nào đó thật không dễ dàng gì. Phải can đảm và bản lĩnh lắm mới có thể thừa nhận rằng mình đã sai và nói lời xin lỗi được. Nhưng trong chúng ta, không có ai là chưa từng mắc lỗi cả. Tôi cũng vậy. Đó là một lần tôi mắc lỗi vào năm tôi học lớp 2 mà đến giờ tôi vẫn chưa thể nào quên.
Năm đó, tôi ở cùng bà ngoại. Nhà bà gần sông cho nên lũ trẻ con chúng tôi thường rủ nhau ra đó nghịch nước. Người lớn cấm tiệt chúng tôi ra sông chơi vì lo lắng những điều nguy hiểm. Nhưng càng cấm thì lũ chúng tôi lại càng trốn đi chơi. Và điều khiến tôi cho đến bây giờ còn thấy có lỗi đó là tôi đã bỏ học để theo các anh chị lớn hơn ra sông lội nước
Có mấy vị khách cứ xuýt xoa khen hết cành đào này đến cành đào kia và tỏ vẻ phân vân chưa biết nên chọn cành nào là đẹp nhất. Những chậu lan, khóm cúc, cành hồng, đồng tiền, thủy tiên… cũng đủ màu sắc. Hương thơm quyện vào nhau lan tỏa cả một góc chợ.
Đi sâu vào chợ là các quầy hàng Tết với đủ các thứ hàng. Nào mứt, nào bánh kẹo, nào chè lam, nào rượu vang đủ các loại. Các chị bán hàng tay liên thoắng gói, xếp, rồi cân đong như hội thi tay nghề. Phía bên kia là dãy bán hàng mã, đồ thờ cũng tấp nập không kém. Các cụ bà thì bán rễ, cau trầu bên cạnh.
Mặc dù, ông chẳng có họ hàng thân thích gì với nhà viên quản đốc nhưng ông vẫn gọi là “cụ” một cách rất hả hê. Nhưng khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, làng ông được giải phóng, người ta không thấy ông nhắc tới cái lăng đó nữa. Bởi trong ông đã sự thay đổi về nhận thức, ông nhận thức được “cái lăng” đó làm cho cả làng ông khổ, chẳng thế mà “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó…”, cũng vì nó mà chân ông bị tật. Từ niềm tự hào, niềm hãnh diện, bây giờ ông thù nó, bởi nó là kẻ thù của cả làng, nó làm cho biết bao người phải bỏ mạng
Đến khi, cái tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính, tất cả những nỗi đau, tủi nhục được thay thế bằng niềm sung sướng, hân hoan “Tất cả đều là sai sự mục đích cả… tất cả đều là sai sự mục đích cả”. Ông Hai báo cái tin làng bị giặc phá với niềm sung sướng tốt độ, mặc dù nhà ông bị gặc đốt nhưng dường như ông chẳng có chút đau buồn nào “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ, đốt nhẵn….”. Ông hạnh phcus bởi, cái sự mất mát của ông, của quê hương ông cũng chính là minh chứng rõ ràng nhất cho lòng trung thành dành cho cách mạng
Nhà văn Kim Lân đã khắc họa thật rõ nét nhân vật ông Hai, hình ảnh ông cũng là đại diện cho tầng lớp nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ngày mùng 6 tháng giêng là ngày khai hội Chùa Hương, ngày này vốn là ngày mở cửa rừng, của người dân địa phương sau này trở thành ngày khai hội. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch,, lễ hội kéo dài đên hết tháng 3 âm lịch.
Chùa Hương đã trở thành một địa chỉ quen thuộc trong tâm linh của du khách trong nước và quốc tế.
Hình ảnh ông vừa là hình ảnh đậm chất nông dân với “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ”. Nỗi nhớ về quê hương của ông cứ chống chất, ông nhớ, ông đem làng ra kể cho cái nhớ ấy vơi bớt… ông nghe ngóng nó qua báo đài, qua những người tản cư
Ông Hai đau đớn nghe tin làng mình theo giặc. Cái tin “làng Chợ Dầu theo giặc” mà ông nghe được của một người đàn bà tản cư làm ông lão cảm thấy choáng vàng, như tiếng sét giữa trời quang
Buổi chiều hôm trước đi học, thằng Việt đã rủ tôi chiều mai nghỉ học để theo các anh chị ra bờ sông lội nước và bắt hến. Nó kể cho tôi nhiều điều thú vị mà tôi chưa từng được biết vì bà cấm không cho tôi đi lội sông bao giờ.
Chính vì thế mà chiều hôm sau đi học, tôi chỉ cắp cặp đi một đoạn đường rồi quay trở về. Khi đó, nhóm chúng tôi có tất cả 6 đứa kéo nhau xuống bến dưới cuối làng để ra sông chơi. Đúng như lời thằng Việt kể, lội sông rất thích. Tôi còn tự tay bắt những con hến to bằng hai ngón tay người lớn. Quả thật cảm giác ấy rất thích thú. Các anh lớn biết bơi thì còn tắm sông nữa. Tôi nhát gan và cũng không biết bơi nên chỉ lội quanh những chỗ nước nông. Đến giờ tan học, tôi rũ sạch cát ở quần áo và đeo cặp trở về nhà với tâm trạng hớn hở lạ thường. Thằng Việt có hẹn tôi chiều mai lại bỏ học ra đây chơi tiếp. Tôi cũng gật đầu đồng ý.
Những hàng thực phẩm cũng đông không kém. Bởi lẽ, ai ai cũng chuẩn bị chọn mua những loại thịt ngon nhất, rau tươi nhất để làm cỗ cúng dâng lên ông bà tổ tiên trong ba ngày Tết sắp tới.
Về trưa mà chợ Tết lại càng đông người. Hình như Tết đến, nhà nào cũng đi chợ sắm tết thì phải. Có khi một ngày họ phải đi chợ đến vài lượt. Lúc thì mua mấy quả dưa, lúc thì đi sắm đồ quần áo mới cho trẻ con, khi thì ra chợ để mua tranh, mua quất. Chính vì vậy mà những phiên chợ tết bao giờ cũng đông khách.
Khi nhắc về mùa xuân, ngoài những không khí vui vẻ của những ngày tết, họ còn có những ngày du xuân. Theo phong tục người Việt Nam, mỗi độ tết về, xuân sang họ thường dành lòng tin và sự thờ kính những ngày hội đầu năm để cầu mong cho một năm mới bình an. Chúng ta có thể kể đến lễ hội Chùa Hương. Chùa Hương là một Danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử văn hoá, tín ngưỡng nổi tiếng của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung.
Tác phẩm ra đời từ năm 1948, bối cảnh là cuộc tản cư kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông Hai trong tác phẩm là một người nông dân người làng chợ Dầu, cùng gia đình đi tản cư để phục vụ kháng chiến như thế. Mặc dù phải rời xa quê hương nhưng ông luôn trăn trở, nhớ nhung về cái làng của mình với bao sự lưu luyến
Tình yêu của ông đối với cái làng Chợ Dầu được thể hiện bằng việc ông hay say mê kể về cái Làng của mình. Trước cuộc kháng chiến ông khoe về cái dinh phần của viên quản đốc làng ông: “Chết! Chết!, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ của cụ thượng làng tôi”
Vậy mà giờ đây, ông lại phải nghe tin làng mình theo giặc, không giấu nổi sự nhục nhã ông vờ đứng rồi lảng ra chỗ khác, cúi gằm mặt xuống mà đi. Về tới nhà, ông nằm vật ra giường, dường sự bao niềm tin, bao tự hào của ông đều sụp đổ, nước mắt ông giàn ra. Nhà văn Kim Lân diễn ta tâm trạng của ông Hai thật xúc động. “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu?. …”. Đau đơn, tủi hổ, nếu như ông không yêu làng đến thế, không tự hào như thế, thì giờ đây khi nghe tin dữ ông đã không cảm thấy ê chề như vậy
Khổ thơ cuối là nỗi niềm của tác giả khi ra về, với bao lưu luyến, buồn thương
Mai về miền Nam dâng trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
Bài thơ được bắt đầu bằng hình ảnh “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” và kết thúc bài thơ là hình ảnh “Mai về miền Nam…”. Tâm trạng nhà thơ trước lúc chia tay bao lưu luyến, xót thương “dâng trào nước mắt”. Câu thơ mộc mạc, giản dị như chính những con người Nam Bộ. Nhà thơ sử dụng nghệ thuật điệp từ “muốn làm….muốn làm……….muốn làm” thể hiện sự mong muốn tốt bậc, mong muốn thiết tha được hóa thân làm cảnh vật bên cạnh người
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Cũng là hình ảnh “mặt trời”, nhưng hình ảnh “mặt trời”trong câu thơ đầu tiên là hình ảnh thực, là mặt trời của thiên nhiên, vũ trụ, ngày ngày đem lại sự sống cho muôn loài. Bằng hình ảnh ẩn dụ, tác giả ví Bác như chính “mặt trời”. Mặt trời của cách mạng, đem lại sức sống mới cho nhân dân Việt Nam, soi tỏ con đường cách mạng. Chẳng thế mà nhà thơ “Tố Hữu” đã từng viết
Cùng với hai hình ảnh “mặt trời, vầng trăng” và “trời xanh” đã tạo nên một mối tổng hòa, hợp nhất của vũ trụ bao la. Có thể nói, với nhà thơ Viễn Phương, Bác là sự hiện thân cho sự trường tồn của dân tộc, cho những chân lý sáng ngời cho con đường cách mạng Việt Nam. Đúng như thế, nhà thơ Tổ Hữu cũng đã từng viết “Người là cha, là bác, là anh”.
Từ những ngày đầu tiên bắt đầu, từ trên cao nhìn xuống dù con đường dốc đá quanh co nhưng dòng người nối đuôi nhau lên xuống không ngớt.Từ mọi miền của tổ quốc, tất cả lứa tuổi đều chung một lòng thành kính về nơi đức phật. Tiếng “Nam mô a dì đà phật” lấn át không gian đông đúc. Người ta đi lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ,hương khói thì không bao giờ đứt trong suốt lễ hội. Người ta nhắc đến lễ hội chùa Hương không thể không nhắc tới các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn …
Về trưa mà chợ Tết lại càng đông người. Hình như Tết đến, nhà nào cũng đi chợ sắm tết thì phải. Có khi một ngày họ phải đi chợ đến vài lượt. Lúc thì mua mấy quả dưa, lúc thì đi sắm đồ quần áo mới cho trẻ con, khi thì ra chợ để mua tranh, mua quất. Chính vì vậy mà những phiên chợ tết bao giờ cũng đông khách.
Đã đến lúc mẹ giục tôi theo về nhà mà tôi vẫn muốn nán lại thêm chút nữa để ngắm cảnh tượng đông vui khi tết đến, xuân về trên quê hương tôi. Tất cả như đang hối hả và rạo rực để đón chào một mùa xuân mới.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Màu sắc “rất đỏ” làm cho câu thơ mang sức sống bất diệt, mặt trời của thiên nhiên có lúc tàn, lúc rạng nhưng “mặt trời của nhân dân Việt Nam” thì luôn luôn tỏa sáng, soi tỏ con đường cách mạng của dân tộc ta
Hòa vào dòng viếng lăng, nhà thơ ngậm ngùi, với lòng tiếc thương vô hạn
Chỉ còn ba ngày nữa là đến Tết cổ truyền của dân tộc. Cả tuần nay không khí chuẩn bị đón Tết ở quê tôi cũng nhộn nhịp hẳn lên. Ai cũng muốn ra chợ để mua sắm, chuẩn bị thật tươm tất cho những ngày Tết sắp đến. Hôm nay tôi cũng được theo mẹ ra chợ Tết để mua đồ.
Phiên chợ tết hôm nay thật đông vui. Ngay từ đầu chợ, những người bán quất, bán đào đã tíu tít mời khách mua. Những chậu quất chín vàng ươm bắt mắt thu hút rất nhiều người lại xem. Những cành đào bích, đào phai e ấp khoe nụ, ngày kia thôi chắc sẽ trổ hoa đúng vào hôm mồng một tết
Dãy hàng bán quần áo thì đủ sắc màu. Ở đây các mẹ dẫn trẻ con đi mua quần áo rất nhiều. Hàng nào cũng treo quần áo mới với rất nhiều kiểu dáng, kích cỡ, màu sắc sặc sỡ. Không chỉ có trẻ con mà người lớn cũng đúng chọn cho mình một bộ quần áo mới diện tết. Người ra kẻ vào như mắc cửi.
Bên cạnh dày hàng quần áo là dãy hàng tranh với đủ các loại. Những câu đối tết nền đỏ chữ vàng ghi những lời hay ý đẹp thật bắt mắt. Những bức tranh dân gian, tranh bồ tát, tranh hoa quả cũng được nhiều người mua về để chơi Tết
Bài thơ được mở đầu bằng chính cảm xúc của tác giả khi từ miền Nam vào lăng thăm Bác
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”
Mở đầu bài thơ là khung cảnh được tác giả miêu tả ở bên ngoài lăng. Nhà thơ xưng “con” và gọi “Bác”, cách xưng hô gần gũi, lời thơ mộc mạc giản dị, chất chưa bao nỗi niềm nhớ thương, kinh trọng đối với Người