Trước những lời nói ấy mà Tử Văn vẫn không mảy may đến. Anh mặc kệ cứ ngồi “ ngất ngưởng tự nhiên”. Hành động đó chúng tỏ Tử Văn tin vào việc làm của mình là đúng. Anh chấp nhận làm và không hề sợ bất cứ lời đe dọa cũng như sự trừng phạt nào. Còn tên phương Bắc kia quả thật càng thấy tâm địa độc ác của hắn khi mà đi cướp đền tác quái rồi lại đòi Tử Văn xây lại đền. Có thể nói trong bụng hắn chẳng có điều gì tốt đẹp cả hắn chỉ nhũng nhiễu làm khổ nhân dân nịnh nọt bưng bít, hắn lấy những cái hắn thu được từ dân làn để đi bưng bít.
Những tiếng trống kia không phải ngẫu nhiên được vang lên mà hoàn toàn co mục đich cả, cũng vì thế mà nhan đề đoạn trích lại là hồi trổng cổ thành.
Hồi trống ấy vang lên
“Chém Sái Dương, anh em hòa giải
Hồi cổ thành tôi chúa đoàn viên”
Nếu những hồi trống ngoài chiến trận để thục giục binh sĩ chiên đấu, là điệu nhạc mừng vui khi thắng trận trở về thì hồi trống ở đây vang lên lại mang nhiều ý nghĩa khác. Thứ nhất là kết thúc những mối nghi ngờ giữa hai anh em Quan Trương gắn kết lại tình huynh đệ sống chết có nhau. Thứ hai, nó là hồi trống minh oan cho tấm lòng chung nghĩa của người anh hùng Quan Công.
Tác phẩm này được viết khi tác giả ẩn cư ở rừng núi xứ Thanh. Để xây dựng nhân vật cua mình tác giả thường mượn nhân vật có thật trong hiện tại hoặc những nhân vật có trong huyền thoại rồi thêm bớt chi tiết kết hợp với những yếu tố kỳ ảo làm nên sức hút của truyền kì mạn lục.
Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên là một chuyện đặc sắc trong truyền kỳ mạn lục. Với những yếu tố kỳ ảo và lối dẫn truyện hấp dẫn tác giả đưa người đọc khám phá một thế giới khác cùng chàng Ngô Tử Văn đòi lại công bằng. Qua đó tác giả gửi gắm những giá trị nhân van và giá trị hiện thực sâu sắc.
Kể về hành trình gặp lại nhau của hai anh em họ thật đáng để người ta dùng những mĩ từ hay nhất để miêu tả. Câu chuyện bắt đầu khi Quan Công dẫn hai chị vượt qua những ải của Tháo. Tháo vẫn muốn giữ Quan lại để dùng nên mặc du biết những điều Quan sắp làm Tháo vẫn không cho người đuổi theo mà ngăn cho họ không qua được ải. Quan Công phải mở đường máu để đưa hai chị đi.
Để làm nổi bật chân dung nhân cách Trần Thủ Độ, tác giả đã có lối viết sử hấp dẫn, tạo những yếu tố bất ngờ, kịch tính nhưng lại rất kiệm lời. Qua mỗi sự kiện, người đọc đều thấy rõ điều đó. Kết quả các sự kiện luôn ngược với dự đoán của người đọc. Trước người hặc tội mình, ta tưởng Trần Thủ Độ sẽ nổi giận rồi trừng phạt nhưng ngược lại, thật bất ngờ khi ông trả lời: "Đúng như lời người ấy nói" và bất ngờ hơn nữa, thưởng tiền lụa cho người ấy. Tác giả đưa người đọc đi hết từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, bất ngờ sau lớn hơn bất ngờ trước.
Truyện truyền kì Việt Nam thường sử dụng truyện dân gian hoặc mô típ truyện dân gian để xây dựng truyện mới. Có thể nói truyện truyền kì mang đậm chất hiện thực và chất nhân văn.
Truyền kỳ mạn lục là sáng tác duy nhất của Nguyễn Dữ, có thể nói ông không sáng tác nhiều ít thôi nhưng giá trị của nó vượt lên trên số lượng câu chuyện của nó. Truyền kỳ mạn lục viết bằng chữ Hán xen lẫn giữa biền ngẫu và thơ ca, cuối truyện còn có lời bình của tác giả
Bài thái phó Tô Hiến Thành được trích từ tập Đại Việt sử lược của một sử gia sống ở thế kỉ XIV. Tuy nhiên từ xa xưa thật không may cuốn sử này bị thất truyền không ai biết đến nó, cho đến khi tác phẩm được in lần đầu tiên ở Trung Hoa thời vua Càn Long.
Năm 1175 Lí Cao Tông húy là Long Cán con thứ sáu của vua Lí Anh Tông, mẹ là Vương Hậu Đỗ Thụy Châu. Lí Cao Tông lên ngôi hồi hai tuổi theo di chúc của vua cha. Có thể nói một ấu chúa như thế lên làm vau thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn và nguy hiểm nếu không có người giúp đỡ phù thân thì khó vững ngai vàng. Vì thế trước khi băng hàTiên Vương đã giao mọi việc phò Long Cán lên ngôi cho thái phó Tô Hiến Thành.
Còn Quan Công thì sao?, sau những gì mình đã làm Quan Công ngỡ tưởng được đoàn tụ vui vẻ nhưng chớ trêu với tình huống bất ngờ ấy. Ông chỉ biết minh oan giải thích điềm đạm cho Phi nghe. Nhớ lại những gì đã trải qua Quan đã phải mở đường máu trải qua bao nhiêu ải bao nhiêu thành, chém chết bao nhiêu tên giữ thành như: Khổng Tú, Hán Phúc, Mạn Thầu…
Người mà Trương đối mặt chẳng phải là anh em mà là kẻ thù. Trương tức giận mặt đằm đằm sát khí “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược” rồi hò hét như sấm chạy vào đâm Quan Công. Tác giả sử dụng mười một động từ mạnh thể hiện nói căm thù tức giận của Trương Phi hết sức khẩn trương, quyết liệt cương trực đến nóng nảy.
Tóm lại, hồi trống cổ thành là một đoạn trích được đánh giá cao về nội dung và nghệ thuật. Qua đây ta biểu dương tính tình cương trực của Trương Phi và ca ngợi lòng chung nghĩa của Quan Công. Đồng thời ca ngợi tình cảm huynh đệ gắn bó sống chết có nhau để rồi dù có bao nhiêu khó khăn thì cuối cùng họ cũng đoàn tụ một cách oanh liệt trong hồi trống tuy thách thức minh oan nhưng đoàn tụ và mừng rỡ.
Nhà thơ Nguyễn Trãi từng viết:
“ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường,Tống, Nguyên mỗi bên xưng để một phương
Tuy mạnh yếu có khác nhau
Song hào kiêt đời nào cũng có.”
Quả đúng là Việt Nam ta tuy nhỏ nhưng hào kiệt hiền thì đời nào cũng có, điều đó đã được lịch sử chứng minh. Trong cuộc sống có những người sinh ra chẳng ai biết đến nhưng lại có những người sinh ra khi mất đi rồi lại khắc tên mình theo dòng lịch sử mà ngàn đời sau ai cũng biết.
Đang lúc khó phan đúng sai thì Sái Dương cùng một loạt quân ở đâu xuất hiện làm cho Trương càng nghi ngờ Quan Công. Cái tên họ Sái kia cũng thật là biết xuất hiện đúng lúc. Không phải tự nhiên một cách tình cờ mà Sái Dương lại có mặt ở đây. Sự xuất hiện của hắn là hợp lý hợp logic bởi Quan Công vừa giết cháu ngoại của hắn là Tần Kỳ bên bờ Hoàng Hà khiến y đuổi theo để báo thù.
Phải chăng tác giả muốn nhắc đến những công lao mà Trần Thủ Độ đã đạt được trong cuộc đời của mình? Trần Thủ Độ là người có công lớn trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi vai trò lịch sử từ thời nhà Lý sang thời nhà Trần. Không những tế ông là người có tài đầy mưu trí trong triều đình trung thành tận tụy với vua, giúp vua dựng việc lớn chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc. Tuy ông là người không có học vấn nhưng lại tài lược hơn người.
Hắn phất áo bay đi thì chiều tối lại có một ông già “ áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh” đi vào. Ông ta cung kính vái chào Tử Văn và tự xưng là thổ địa. Hai người trò chuyên với nhau về chuyện đốt đền và tên tướng cướp đền kia sẽ làm gì với Tử Văn. Chủ nhân của cái đền bị đốt kia không ai khác chính là ông Thổ công còn tên đang giữ đền chỉ là một cô hồn của viên tướng bại trần bắc triều. Trước khi đi ông không quên dặn dò Tử Văn khi xuống Minh Ty thì hãy khai những gì mà ông vừa nói.
Tác phẩm đã nêu lên ý nghĩa và mục đích của việc dựng bia tiến sĩ. Muốn đất nước yên bình thì việc đầu tiên là phải tôn vinh những hiền tài có công lớn với đất nước, ghi công để khích lệ động viên họ.
Câu mở đầu tác phẩm khiến chúng ta càng thêm khâm phục sự tài đức và khéo léo trong lối hành văn của ông “Tôi dẫu nông cạn vụng về nhưng đâu dám từ chối xin kính cẩn chấp tay cúi đầu mà làm bài kỉ” thiện sự khiêm tốn của người viết.Sau đó ông khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với sự suy vong của đất nước. Những từ ngữ với kết cấu chặt chẽ, hợp lý rõ ràng bắt đầu được đưa ra với đầy sức thuyết phục “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia,nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xống thấp…”.
Tiếp đến tác giả kể về bốn sự việc khi ông còn sống để thể hiện tính cách của vị thái sư này. Qua đó ta càng thêm hiểu thêm những phẩm chất đáng quý của ông.
Thứ nhất, là việc có người hặc ông là “ Trần Thủ Độ quyền hơn cả vua”. Dẫu biết rằng con người vẫn cứ dạy nhau rằng ai chê mới là bạn ai khen thì là thù, nhưng đó chỉ là lý thuyết. Ai chúng ta cũng muốn được khen còn chê thì lại khong thích, ai cũng muốn mình đẹp cả cho nên không thể chấp nhận những lời không hay về mình. Ở đây tác giả dùng từ “hặc người” có nghĩa là kẻ tội vạch tội mình.
Ngô Tử Văn được thả về thi hay tin mình đã chết hai ngày bèn đem hết chuyện kể cho mọi người. Sau đó ông thần kia trở về với đền và đề cử Tử Văn đến làm chức phán sự ở đền Tản Viên. Ông khuyên:” Người ta sống ở đời, xưa nay ai không phải chết, miễn sao chết đi để lại tiếng về sau là đủ rồi”. Tử Văn vui vẻ nhận lời. Như vậy đấy con người sống ở đời ngay thẳng biết trừ tà gian thì để lại tiếng cho đời sau.
Lịch sử Đại Việt ta thường gắn liền với những anh hùng hào kiệt, những người anh hùng bước ra từ những cuộc chiến bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm hay cuộc chiến giữa các thế lực trong triều đình. Cùng với những anh hùng, những vị chung thần có công với nước nhà như Nguyễn Huệ, Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn…là thái phó Tô Hiến Thành. Đặc biệt nhân vật lịch sử này được thể hiện rõ trong cuốn Địa việt sử lược.
La Quán Trung – một nhà văn với tính cách cô độc, lẻ loi, thích ngao du nhưng lại có tài về viết dã sử. Ông có rất nhiều tiểu thuyết dã sử ví dụ như tùy đường lưỡng triều chí truyện, Tấn đường ngũ đại sử diễn nghĩa,.. Đặc biệt trong đó là tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, với giá trị của mình nó xứng đáng trở thành mọt trong những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử hay nhất của Trung Quốc. Tiêu biểu trong tác phẩm là đoạn trích hồi trống cổ thành.