Trước những lời nói ấy mà Tử Văn vẫn không mảy may đến. Anh mặc kệ cứ ngồi “ ngất ngưởng tự nhiên”. Hành động đó chúng tỏ Tử Văn tin vào việc làm của mình là đúng. Anh chấp nhận làm và không hề sợ bất cứ lời đe dọa cũng như sự trừng phạt nào. Còn tên phương Bắc kia quả thật càng thấy tâm địa độc ác của hắn khi mà đi cướp đền tác quái rồi lại đòi Tử Văn xây lại đền. Có thể nói trong bụng hắn chẳng có điều gì tốt đẹp cả hắn chỉ nhũng nhiễu làm khổ nhân dân nịnh nọt bưng bít, hắn lấy những cái hắn thu được từ dân làn để đi bưng bít.
Truyền kì là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Hoa có yếu tố kì ảo để phản ánh cuộc sống thực tại. Thể loại này đặc biệt phát triển ở giai đoạn văn học trung đại Việt Nam và rất được ưa chuộng. Truyện truyền kì Việt Nam thường sử dụng truyện dân gian hoặc mô típ truyện dân gian để xây dựng truyện mới. Có thể nói truyện truyền kì mang đậm chất hiện thực và chất nhân văn.
Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên là một chuyện đặc sắc trong truyền kỳ mạn lục. Với những yếu tố kỳ ảo và lối dẫn truyện hấp dẫn tác giả đưa người đọc khám phá một thế giới khác cùng chàng Ngô Tử Văn đòi lại công bằng. Qua đó tác giả gửi gắm những giá trị nhân van và giá trị hiện thực sâu sắc
Đất không chỉ là không gian cư trú mà còn là không gian của nghĩa tình, không gian của tinh thần; Nếu sống hết mình, gắn bó hết mình thì vùng đất dù có xa lạ đến mấy cũng trở nên thân thiết như chính quê hương mình vậy.
Truyền kỳ mạn lục là sáng tác duy nhất của Nguyễn Dữ, có thể nói ông không sáng tác nhiều ít thôi nhưng giá trị của nó vượt lên trên số lượng câu chuyện của nó. Truyền kỳ mạn lục viết bằng chữ Hán xen lẫn giữa biền ngẫu và thơ ca, cuối truyện còn có lời bình của tác giả. Tác phẩm này được viết khi tác giả ẩn cư ở rừng núi xứ Thanh. Để xây dựng nhân vật cua mình tác giả thường mượn nhân vật có thật trong hiện tại hoặc những nhân vật có trong huyền thoại rồi thêm bớt chi tiết kết hợp với những yếu tố kỳ ảo làm nên sức hút của truyền kì mạn lục.
Hình ảnh đất nước và con người cứ đan xen nhau gợi mối quan hệ gắn bó thân thiết. Hình ảnh đất nước được nói tới ở đây là Tây Bắc song Tây Bắc không chỉ là một miền đất cụ thể mà nó còn là biểu tượng cho mọi miền đất của Tổ quốc.
Hắn phất áo bay đi thì chiều tối lại có một ông già “ áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh” đi vào. Ông ta cung kính vái chào Tử Văn và tự xưng là thổ địa. Hai người trò chuyên với nhau về chuyện đốt đền và tên tướng cướp đền kia sẽ làm gì với Tử Văn. Chủ nhân của cái đền bị đốt kia không ai khác chính là ông Thổ công còn tên đang giữ đền chỉ là một cô hồn của viên tướng bại trần bắc triều. Trước khi đi ông không quên dặn dò Tử Văn khi xuống Minh Ty thì hãy khai những gì mà ông vừa nói. Tên giặc kia chắc chắn không thể một tay che mắt trời mãi được. Sức mạnh của chính nghĩa sự diệt trừ kẻ ác, khảng khái của chàng Tử Văn và sức mạnh của sự thật của ông Thổ thần sẽ làm sáng tỏ mọi việc.
Có những tác phẩm đi liền với tên tuổi của một tác giả nào đó, nhắc đến tác giả người ta nhớ đến tác phẩm và ngược lại. Nếu nhắc đến Nguyễn Du thì không thể không kể đến Truyện Kiều, nhắc đến Quang Dũng người ta nhớ đến Tây Tiến. Còn khi nhắc tới Nguyễn Dữ là nhắc tới Truyền kì mạn lục. Đặc biệt trong số 20 truyện tiêu biểu có chuyện Chức phán sự ở đền Tản Viên thể hiện rõ ý đồ của tác giả. Đó là ca ngợi những con người cương trực, can đảm, biết đấu tranh để bảo vệ lẽ phải và chính nghĩa.
La Quán Trung – một nhà văn với tính cách cô độc, lẻ loi, thích ngao du nhưng lại có tài về viết dã sử. Ông có rất nhiều tiểu thuyết dã sử ví dụ như tùy đường lưỡng triều chí truyện, Tấn đường ngũ đại sử diễn nghĩa,.. Đặc biệt trong đó là tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, với giá trị của mình nó xứng đáng trở thành mọt trong những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử hay nhất của Trung Quốc. Tiêu biểu trong tác phẩm là đoạn trích hồi trống cổ thành.
Ở hai khổ thơ tiếp theo, mạch thơ đột ngột chuyển sang một rung cảm và suy tưởng khác. Tình cảm gắn với thiên nhiên đất nước được biểu đạt bằng tình yêu giữa anh và em. Từ những so sánh trong khổ thơ này nhà thơ đi đến một chân lí khái quát
Bài thơ được bố cục theo trình tự diễn biến tâm trạng. Giọng điệu, âm hưởng của bài thơ cũng biến đổi theo mạch tâm trạng. Hai khổ đầu là sự trăn trở và lời mời gọi lên đường. Chín khổ thơ giữa thể hiện khát vọng về với nhân dân
“Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” (Tục ngữ). Trong giao tiếp hàng ngày với những người xung quanh, người lịch sự, có văn hóa là người biết dùng những từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” khi gặp gỡ chuyện trò
Tiếp theo là khát vọng và niềm hạnh phúc được trở về với nhân dân và kỷ niệm sâu nặng nghĩa tình. Tác giả đã diễn tả niềm hạnh phúc được về với nhân dân bằng một loạt hình ảnh so sánh.
Đặc biệt không cần đến ba hồi trống mà chưa hết một hồi Quan đã hạ được đối thủ. Điều đó đủ cho thấy Quan Công quyết tâm minh bạch như thế nào. Không những thế nó còn ca ngợi tài năng võ thuật của Quân Công. Về phía Trương Phi đặt ra hồi trống kia chính là để thách thức Quan Công nhưng không ngờ lại nhanh chóng đến thế nên mối nghi ngờ trong y vẫn không nguôi. Mãi cho đến khi bắt một tên lính minh oan và kể lại đầu đuôi sự việc cungf những cái thụp lạy van khóc của hai chị thì Trương Phi lúc này mới tin Quan Công.
Tóm lại, hồi trống cổ thành là một đoạn trích được đánh giá cao về nội dung và nghệ thuật. Qua đây ta biểu dương tính tình cương trực của Trương Phi và ca ngợi lòng chung nghĩa của Quan Công. Đồng thời ca ngợi tình cảm huynh đệ gắn bó sống chết có nhau để rồi dù có bao nhiêu khó khăn thì cuối cùng họ cũng đoàn tụ một cách oanh liệt trong hồi trống tuy thách thức minh oan nhưng đoàn tụ và mừng rỡ.
Từ “cảm ơn” là từ hay dùng nhất. Đối với bất kể ai dù là một đứa trẻ nếu giúp mình một việc gì dù nhỏ nhất mình cũng phải “cảm ơn”. Ví dụ: cháu đưa ông tờ báo, ông cảm ơn cháu; mình hỏi đường, người ta chỉ, mình phải cảm ơn; người bán hàng giao hàng