Hắn phất áo bay đi thì chiều tối lại có một ông già “ áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh” đi vào. Ông ta cung kính vái chào Tử Văn và tự xưng là thổ địa. Hai người trò chuyên với nhau về chuyện đốt đền và tên tướng cướp đền kia sẽ làm gì với Tử Văn. Chủ nhân của cái đền bị đốt kia không ai khác chính là ông Thổ công còn tên đang giữ đền chỉ là một cô hồn của viên tướng bại trần bắc triều. Trước khi đi ông không quên dặn dò Tử Văn khi xuống Minh Ty thì hãy khai những gì mà ông vừa nói.
Nhà thơ Nguyễn Trãi từng viết:
“ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường,Tống, Nguyên mỗi bên xưng để một phương
Tuy mạnh yếu có khác nhau
Song hào kiêt đời nào cũng có.”
Quả đúng là Việt Nam ta tuy nhỏ nhưng hào kiệt hiền thì đời nào cũng có, điều đó đã được lịch sử chứng minh. Trong cuộc sống có những người sinh ra chẳng ai biết đến nhưng lại có những người sinh ra khi mất đi rồi lại khắc tên mình theo dòng lịch sử mà ngàn đời sau ai cũng biết.
Ngay sau đó đề nghị của Quan Công được chấp nhận nhưng lại bị thách thức ttrong ba hồi trống vang lên. Có lẽ thế mà tên đoạn trích được đặt là hồi trống cổ thành. Ngay lập tức Quan Công chẳng nói chẳng rằng xông vào lấy đầu Sái Dương chỉ trong một hồi trống. Có lẽ hành động đó đủ thành y muốn chứng minh lòng trung thành tín nghĩa của mình như thế nào.
Người mà Trương đối mặt chẳng phải là anh em mà là kẻ thù. Trương tức giận mặt đằm đằm sát khí “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược” rồi hò hét như sấm chạy vào đâm Quan Công. Tác giả sử dụng mười một động từ mạnh thể hiện nói căm thù tức giận của Trương Phi hết sức khẩn trương, quyết liệt cương trực đến nóng nảy. 112
Bài thái phó Tô Hiến Thành được trích từ tập Đại Việt sử lược của một sử gia sống ở thế kỉ XIV. Tuy nhiên từ xa xưa thật không may cuốn sử này bị thất truyền không ai biết đến nó, cho đến khi tác phẩm được in lần đầu tiên ở Trung Hoa thời vua Càn Long.
Năm 1175 Lí Cao Tông húy là Long Cán con thứ sáu của vua Lí Anh Tông, mẹ là Vương Hậu Đỗ Thụy Châu. Lí Cao Tông lên ngôi hồi hai tuổi theo di chúc của vua cha. Có thể nói một ấu chúa như thế lên làm vau thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn và nguy hiểm nếu không có người giúp đỡ phù thân thì khó vững ngai vàng. Vì thế trước khi băng hàTiên Vương đã giao mọi việc phò Long Cán lên ngôi cho thái phó Tô Hiến Thành.
Tưởng rằng anh em đoàn tụ vui mừng khôn xiết và tối nay Quan sẽ được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để bù đắp cho những ngày qua khó nhọc. Nhưng nào có ngờ đâu khi nghe Tôn Càn báo tin thì Trương Phi không nói một lời, vội mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn theo một nghìn quân tiến ra cửa Bắc.
Chàng tắm sửa chay sạch khấn trời rồi đốt đền mặc cho sự ngăn cản của mọi người, ai nấy đều lo lắng cho chàng. Họ “ lắc đầu lè lưỡi, họ lo sợ thay Tử Văn”. Hành động đó đủ thấy sự gan dạ muốn tiêu diệt cái ác trả lại sự bình yên cho dân làng mặc cho nguy hiểm có thế giáng xuống bất cứ lúc nào. Hơn nưa việc làm ấy thể hiện sự bảo vệ thổ thần đất nước,toát lên một tinh thần dân tộc mạnh mẽ.
Phải chăng tác giả muốn nhắc đến những công lao mà Trần Thủ Độ đã đạt được trong cuộc đời của mình? Trần Thủ Độ là người có công lớn trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi vai trò lịch sử từ thời nhà Lý sang thời nhà Trần. Không những tế ông là người có tài đầy mưu trí trong triều đình trung thành tận tụy với vua, giúp vua dựng việc lớn chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc. Tuy ông là người không có học vấn nhưng lại tài lược hơn người.
Đoạn trích bắt đầu bằng những mốc thời gian lịch sử cụ thể chính xác: “Giap Tý (1264), năm thư 7 niên hiệu Thiên Long đời vua Trần Thánh Tông, mùa xuân, tháng giêng. Trần Thủ Độ mất, thọ 71 tuổi. Ông được vua truy tặng “ Thượng phụ Thái sư Trung Vũ đại vương” tắc giả mở đầu bằng sự kiện Trần Thủ Độ qua đời và sự truy tặng của nhà vua đối với ông. Hai chữ “thượng phụ” là cha vua, hai chữ “thái sư” có nghĩa là thầy của vua, đó là tước bậc cao nhất của thời phong kiến lúc bấy giờ. Vậy mục đích của tác giả khi mở đầu bằng sự kiện đau buồn đáng tiếc này là gì?.
Tên giặc kia chắc chắn không thể một tay che mắt trời mãi được. Sức mạnh của chính nghĩa sự diệt trừ kẻ ác, khảng khái của chàng Tử Văn và sức mạnh của sự thật của ông Thổ thần sẽ làm sáng tỏ mọi việc.
Đúng như đã đoán trước được, đến đêm bệnh của Tử Văn càng nặng hơn rồi ở đâu xuất hiên hai tên quỷ sứ đến bắt chàng đi gấp. Tử Văn không được vào dinh mà bị giải đi tới chỗ của bọn quỷ dạ xoa. Chàng không cam tâm kêu lớn.
vậy mà giờ đây lại bị như thế này. Ông trời thật là khéo biết sắp đặt người ta vào những tình huống bế tắc. Tuy nhiên ban đầu Quan Công vẫn tưởng Trương Phi ra đón mình nên đã mừng rỡ “giao long đao,tế ngựa lại đón”. Quan vẫn xưng hô hiền đệ và em mặc dù Trương Phi đang mày tao thất lễ. Quả thật là một người anh mà chấp nhận để cho em nhục mạ mặc cho mình không làm gì sai như vây thật là đáng quý. Ở đây ta thấy một đức tính kiên nhẫn mềm mỏng nói năng dễ nghe của một huynh trưởng.
Tóm lại, hồi trống cổ thành là một đoạn trích được đánh giá cao về nội dung và nghệ thuật. Qua đây ta biểu dương tính tình cương trực của Trương Phi và ca ngợi lòng chung nghĩa của Quan Công. Đồng thời ca ngợi tình cảm huynh đệ gắn bó sống chết có nhau để rồi dù có bao nhiêu khó khăn thì cuối cùng họ cũng đoàn tụ một cách oanh liệt trong hồi trống tuy thách thức minh oan nhưng đoàn tụ và mừng rỡ.
Kể về hành trình gặp lại nhau của hai anh em họ thật đáng để người ta dùng những mĩ từ hay nhất để miêu tả. Câu chuyện bắt đầu khi Quan Công dẫn hai chị vượt qua những ải của Tháo. Tháo vẫn muốn giữ Quan lại để dùng nên mặc du biết những điều Quan sắp làm Tháo vẫn không cho người đuổi theo mà ngăn cho họ không qua được ải. Quan Công phải mở đường máu để đưa hai chị đi.
Đang lúc khó phan đúng sai thì Sái Dương cùng một loạt quân ở đâu xuất hiện làm cho Trương càng nghi ngờ Quan Công. Cái tên họ Sái kia cũng thật là biết xuất hiện đúng lúc. Không phải tự nhiên một cách tình cờ mà Sái Dương lại có mặt ở đây. Sự xuất hiện của hắn là hợp lý hợp logic bởi Quan Công vừa giết cháu ngoại của hắn là Tần Kỳ bên bờ Hoàng Hà khiến y đuổi theo để báo thù.
Có thể nói một lần nữa thái hậu lại dùng vinh hoa phú quý để mua chuộc lòng chung thành của Tô Hiên Thành “ giữ được phú quý lâu dài há chăng nên ư?”. Tuy nhiên Hiến Thành từ chối ngay:”Bất nghĩa mà được phú và quý, đó không phải là điều trung thần nghĩa sĩ vui làm. Huống chi lời tiên vương còn ở bên tai. Đôi với công luận sẽ như thế nào? Thần không dám vâng lời”. Khá khen cho câu “ thần không dám vâng lời”, lời nói ấy vừa giữ được sự tôn kính với thái hậu vừa dứt khoát không làm trái với đạo lý lương tâm.
Nếu những hồi trống ngoài chiến trận để thục giục binh sĩ chiên đấu, là điệu nhạc mừng vui khi thắng trận trở về thì hồi trống ở đây vang lên lại mang nhiều ý nghĩa khác. Thứ nhất là kết thúc những mối nghi ngờ giữa hai anh em Quan Trương gắn kết lại tình huynh đệ sống chết có nhau. Thứ hai, nó là hồi trống minh oan cho tấm lòng chung nghĩa của người anh hùng Quan Công.
La Quán Trung – một nhà văn với tính cách cô độc, lẻ loi, thích ngao du nhưng lại có tài về viết dã sử. Ông có rất nhiều tiểu thuyết dã sử ví dụ như tùy đường lưỡng triều chí truyện, Tấn đường ngũ đại sử diễn nghĩa,.. Đặc biệt trong đó là tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, với giá trị của mình nó xứng đáng trở thành mọt trong những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử hay nhất của Trung Quốc. Tiêu biểu trong tác phẩm là đoạn trích hồi trống cổ thành.
Sau khi dốt đền xong, chàng thấy trong người vô cùng khó chịu.đầu có trao đảo, bụng dạ run run, và kết quả là một trận sốt rét. Trong cơn sốt chàng thấy rõ một người “khôi ngô dõng dạc, đầu đội mũ trụ đi tới”. Hắn trông giống người phương Bắc hắn tự xưng là cư sĩ và đòi Tử Văn phải xây lại đền. Hắn nói: “ nhà ngươi đã theo nghiệp nho, đọc sách thánh hiền, há không biết cái đức của quỷ thần ra sao, cớ gì lại dám lăng miệt, hủy tượng đốt đền, khiến cho hương lửa không có chốn tựa nương… Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai họa”.
Thêm nữa tư lâu y không phục Quan Công nên muốn diệt Quan. Tuy nhiên điều đó lại làm cho mối nghi ngờ của Trương Phi được đẩy lên đỉnh điểm và kết thúc cũng thật hấp dẫn. Và chính điều ấy làm Quan Công nảy ra một đề xuất là chém đầu Sai Dương để minh oan.
Bằng nghệ thuật viết sử vừa chân thực vưa hấp dẫn kịch tính của tác giả đã đem đến cho ta một bức tượng vĩ đại về một vị thái sư học vấn ít nhưng tào lược thì hiếm ai bằng. Qua đoạn trích ta thấy một con người có tài, có chức có quyền nhưng không vì thế mà coi thường ngời khác, cũng không vì thế mà che đỡ cho người thân. Ông luôn hết lòng vì vua vì dân vì nước, thật xứng đáng để người đời sau nhớ đến.